Hotline: 0985928544

Giờ làm việc: Hỗ trợ 24/7

Giới hạn quyền tác giả

22/08/2017 - 08:57

Tác giả, chủ sở hữu quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ và tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nói riêng được trao những quyền mang tính độc quyền. Việc thực hiện những quyền này có thể bóp méo cạnh tranh, cản trở lưu thông hàng hóa, dịch vụ và hạn chế khả năng tiếp cận của cộng đồng đối với sản phẩm sáng tạo. Bởi vậy, một số quy định được ban hành và một số học thuyết được hình thành nhằm cân bằng giữa cân bằng quyền sở hữu trí tuệ với duy trì cạnh tranh lành mạnh và đảm bảo lưu thông của thị trường; cân bằng giữa bảo vệ lợi ích của chủ thể nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ với bảo vệ lợi ích của người sử dụng, của cộng đồng. Những quy định và học thuyết này xác định giới hạn cho quyền sở hữu trí tuệ. 


Đối với quyền tác giả , đó là quy định về sử dụng tác phẩm không xin phép, không trả nhuận bút, thù lao trong những trường hợp nhất định. Bên cạnh đó, một số nước áp dụng học thuyết sử dụng công bằng  nhằm hạn chế tính độc quyền của tác giả. Thuyết hạn chế quyền sở hữu trí tuệ cũng là một công cụ pháp lý quan trọng cho xác định giới hạn cho quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng tạo điều kiện để công chúng tiếp cận với những sản phẩm trí tuệ con người. 


Giới hạn bảo hộ bản quyền tác giả được quy định tại điều 9 công ước Berne  và điều 13 hiệp định TRIP. Theo điều 10 và điều 10bis của công ước Berne, tác phẩm được sử dụng tự do trong một số trường hợp như: trích dẫn để minh họa cho giảng dạy, in lại trên báo chí, phát lại trên đài truyền thanh hay phương tiện thông tin đại chúng nhứng bài báo có tính chất về thời sự kinh tế, chính trị hay tôn giáo đã đăng tải trên các tập san hay các tác phẩm truyền thanh. Tuy nhiên trong những trường hợp này quyền tác giả vẫn được bảo vệ  vì người sử dụng phải nghi rõ nguồn gốc tác phẩm và tên tác giả. Sự trích dẫn phải phù hợp với những thông lệ chính đáng và trong mức độ phù hợp với mục đích.


Ở nước ta, quyền tác giả được pháp luật ghi nhận và bảo hộ trong Luật sở hữu trí tuệ 2005. Tuy nhiên việc bảo hộ quyền tác giả không phải là độc quyền mà còn có những giới hạn nhất định, những giới hạn này giới hạn sự độc quyền của chủ sở hữu quyền tác giả ở mức hợp lý vì lợi ích chung của cộng đồng. 
Có rất nhiều giả thiết về giới hạn quyền tác giả đã được các nhà làm luật đưa ra, nhưng những ý kiến đều có điểm chung giống nhau. Từ đó có thể rút ra khái niệm giới hạn quyền tác giả là: Những hạn chế về quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hay còn được hiểu như là các ngoại lệ của quyền tác giả. Giới hạn quyền tác giả là quy định liên quan tới việc khai thác, sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bảng ghi âm hình, chương trình sóng các trường hợp đặc biệt, cụ thể nhằm đáp ứng các nhu cầu chính đáng phục vụ công tác thông tin, nghiên cứu khoa học, giảng dạy và chính sách xã hội.


1. Các quy định của pháp luật về giới hạn quyền tác giả


Theo quy định của pháp luật, người trực tiếp sáng tạo ra toàn bộ hoặc một phần tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học… được coi là tác giả của tác phẩm đó và được bảo hộ quyền tác giả. Việc giới hạn quyền thể hiện ở chỗ pháp luật quy định trong những trường hợp nhất định thì cá nhân, tổ chức khác có quyền sử dụng tác phẩm được công bố mà không phải xin phép hay trả tiền bản quyền; sử dụng tác phẩm không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền. Giới hạn quyền tác giả trong những trường hợp này giúp cho công chúng có khả năng khai thác, sử dụng các tác phẩm mỹ thuật văn học, nghệ thuật và khoa học vào mục đích phi thương mại ( như nghiên cứu khoa học, giảng dạy, sử dụng riêng) dễ dàng hơn. Tuy nhiên bên cạnh các quyền lợi này tổ chức cá nhân sử dụng tác phẩm trong những trường hợp giới hạn quyền tác giả có nghĩa vụ không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường của tác phẩm, không gây phương hại đến quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm. Hơn nữa bản sao của tác phẩm trong những trường hợp này cũng bị giới hạn ở số lượng một bản. Cụ thể  Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009 quy định như sau:


► Trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao.


Theo quy định tại Điều 25, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của sở hữu trí tuệ 2005, các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm :
“ 1. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:
a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;
b) Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình;
c) Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;
d) Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại;
đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;
e) Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;
g) Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;
h) Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;
i) Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;
k) Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng.
2. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.
3. Các quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính. ”


Tuy nhiên cần lưu ý : Theo Điều 25 Nghị định số: 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ luật dân sự luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan quy định : 


“1. Tự sao chép một bản quy định tại điểm a khoản 1 Điều 25 của Luật Sở hữu trí tuệ áp dụng đối với các trường hợp nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân không nhằm mục đích thương mại.
2. Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc sao chép không quá một bản.
3. Thư viện không được sao chép và phân phối bản sao tác phẩm tới công chúng, kể cả bản sao kỹ thuật số.”
Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao
Theo quy định tại Điều 26, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của sở hữu trí tuệ 2005, các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm :


“1. Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng. Mức nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác và phương thức thanh toán do các bên thoả thuận; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật.
Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ.
2. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.
3. Việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm điện ảnh.”

Như vậy, quy định sử dụng tác phẩm đã được công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao chỉ dành cho tổ chức phát sóng khi phát sóng các chương trình có tài trợ, quảng cáo, thu tiền hoặc không tài trợ, không quảng cáo, không thu tiền. Cần phân biệt hai trường hợp: a) Nếu tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm cho các chương trình phát sóng có tài trợ, quảng cáo, thu tiền thì tổ chức này và chủ sở hữu quyền tác giả có quyền thỏa thuận về mức thù lao, nhuận bút, các lợi ích vật chất khác và phương thức thanh toán. b) Nếu tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm cho các sản phẩm phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền thì tổ chức này phải trả thù lao, nhuận bút theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên đối với riêng tác phẩm điện ảnh thì dù tổ chức phát sóng cho các chương trình có tài trợ, quảng cáo, thu tiền hoặc không tài trợ, không quảng cáo, không thu tiền thì tổ chức phát sóng vẫn phải xin phép và trả thù lao, nhuận bút cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm khi phát sóng tác phẩm.


2. Ý nghĩa việc giới hạn quyền tác giả 


Quyền tác giả được bảo hộ tự động ngay khi tác phẩm được thể hiện dưới một hình thức nhất định mà không phụ thuộc vào việc đã công bố hay chưa và không bắt buộc phải đăng ký với cơ quan nhà nước. Việc “sử dụng” “tác phẩm của người khác” ngoài ý muốn của họ là trái pháp luật (cụ thể luật Sở hữu trí tuệ quy định các hành vi xâm phạm quyền tác giả tại Điều 28 Luật sở hữu trí tuệ). Nhưng mặt khác, một tác phẩm hay một sản phẩm sáng tạo sẽ mất đi “giá trị” của nó khi mà tác giả cứ “ôm khư khư” trong lòng và điều đó khiến cho tác phẩm ấy “chết” dần đi…Công chúng sẽ không có cơ hội để tiếp cận, để “thấy” được sự sáng tạo, thấy được một sản phẩm trí óc của con người…Để bảo vệ cho việc “công chúng được tiếp cận tác phẩm” các nhà làm luật của chúng ta quy định các trường hợp mà theo đó sẽ làm giới hạn quyền đối với tác phẩm của tác giả (giới hạn quyền tác giả) (Điều 25, Điều 26 Luật sở hữu trí tuệ), Khi đó các tổ chức, cá nhân khác có quyền được sao chép, sử dụng tác phẩm đã được công bố mà không phải xin phép và trả tiền hoặc không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao.
→ Như vậy , Quy định giới hạn quyền tác giả ra đời có vai trò để : cân bằng giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với duy trì cạnh tranh lành mạnh và đảm bảo lưu thông của thị trường; cân bằng lợi ích người sáng tạo và người đầu tư ; Cân bằng lợi ích giữa các chủ thể được bảo hộ và lợi ích của người sử dụng, của cộng đồng.

Mọi thông tin cần tư vấn, quý khách vui lòng liên hệ

Luật Sư Tư Vấn Thương Hiệu

Adress: Số 9 Ngách 6A - Ngõ 6 - Phạm văn Đồng, Q.Cầu Giấy, TP. Hà Nội .

Phone: 1900.6110

Email: hanoi@newvisionlaw.com.vn.

  luatsutraloi1

Hotline: 1900.6110 - Tổng đài tư vấn

Tư vấn trực tuyến: Hotline: 1900.6110 - Tổng đài tư vấn

Vui lòng nhập tiếng việt có dấu và cung cấp địa chỉ Email để luật sư trả lời

Họ và tên:
Điện thoại
Email:
Nội dung:

Bài viết liên quan